Doanh Nghiệp & Thương Mại

| Attorney

Doanh nghiệp nên để Hải quan chủ động hay yêu cầu tạm dừng khi hàng hóa bị chặn tại cửa khẩu theo Thông tư 06/2026/TT-BTC

Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử, logistics xuyên biên giới và các mô hình phân phối đa kênh đang khiến hàng giả, hàng giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng khó kiểm soát nếu doanh nghiệp chỉ xử lý sau khi hàng đã đi sâu vào thị trường nội địa.

Trong bối cảnh đó, kiểm soát hàng hóa ngay tại biên giới trở thành một mắt xích quan trọng trong chiến lược bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp.

Thông tư số 06/2026/TT-BTC ngày 26/01/2026 của Bộ Tài chính, có hiệu lực từ ngày 01/03/2026, sửa đổi, bổ sung Thông tư số 13/2015/TT-BTC, đã tạo ra một thay đổi đáng chú ý: cơ chế để cơ quan Hải quan chủ động tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với một số loại hàng hóa có dấu hiệu giả mạo quyền sở hữu trí tuệ được quy định rõ ràng hơn.

Theo Điều 10a được bổ sung, trong quá trình kiểm tra, giám sát và kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thông qua phân tích cơ sở dữ liệu sở hữu trí tuệ hoặc thông tin từ các đơn vị nghiệp vụ hải quan, nếu có căn cứ rõ ràng nghi ngờ hàng hóa là hàng giả mạo nhãn hiệu, hàng giả mạo chỉ dẫn địa lý hoặc hàng sao chép lậu, Đội trưởng Hải quan nơi đăng ký tờ khai có thể ra quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan.

Sự thay đổi này đặt ra một câu hỏi thực tế mà ngày càng nhiều chủ sở hữu nhãn hiệu đặt ra: Nếu Hải quan đã có thể chủ động tạm dừng hàng hóa nghi giả mạo, doanh nghiệp còn cần tự yêu cầu tạm dừng thông quan hay không? Câu trả lời không nằm ở việc lựa chọn một trong hai cơ chế. Điều quan trọng hơn là doanh nghiệp phải xác định đúng thời điểm và đúng công cụ.

1. Từ cơ chế phản ứng sang cơ chế chủ động bảo vệ quyền tại biên giới

Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam từ lâu đã thừa nhận các biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, trong đó có biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền.

Luật Sở hữu trí tuệ đồng thời đặt ra nghĩa vụ cho người yêu cầu áp dụng biện pháp kiểm soát, bao gồm chứng minh tư cách chủ thể quyền, cung cấp thông tin đủ để nhận diện hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền, thực hiện các thủ tục cần thiết và chịu trách nhiệm đối với thiệt hại phát sinh nếu việc yêu cầu kiểm soát không có căn cứ.

Trong mô hình truyền thống, vai trò của chủ thể quyền tương đối rõ: doanh nghiệp cung cấp thông tin, Hải quan phát hiện hàng hóa nghi vấn, sau đó chủ thể quyền quyết định có tiếp tục yêu cầu áp dụng biện pháp tạm dừng hay không.

Thông tư 06/2026/TT-BTC bổ sung thêm một tầng thực thi đáng chú ý. Hải quan không nhất thiết phải chờ chủ thể quyền nộp yêu cầu đối với từng lô hàng mới có thể hành động trong mọi trường hợp.

Khi có căn cứ rõ ràng về hàng giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chỉ dẫn địa lý hoặc hàng sao chép lậu, cơ quan Hải quan có thể chủ động tạm dừng để kiểm tra và xử lý.

Đây là bước chuyển quan trọng từ mô hình gần như hoàn toàn dựa vào yêu cầu của chủ thể quyền sang mô hình kết hợp giữa chủ động của chủ thể quyền – dữ liệu quản lý rủi ro – và quyền chủ động thực thi của Hải quan. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa doanh nghiệp có thể chuyển toàn bộ trách nhiệm chống hàng giả cho cơ quan Hải quan.

2. Đăng ký kiểm tra, giám sát hải quan vẫn là nền tảng của chiến lược bảo vệ quyền

Một trong những cách hiểu không chính xác sau khi Điều 10a được bổ sung là cho rằng doanh nghiệp không còn cần đăng ký kiểm tra, giám sát hải quan vì Hải quan đã có thể chủ động phát hiện hàng giả.

Trên thực tế, điều ngược lại mới gần với cách tiếp cận quản trị rủi ro.

Muốn Hải quan có khả năng nhận diện hàng hóa nghi ngờ một cách hiệu quả, cơ sở dữ liệu mà Hải quan sử dụng phải có đủ thông tin về quyền sở hữu trí tuệ và đặc điểm của hàng hóa.

Thông tư 06/2026/TT-BTC yêu cầu hồ sơ kiểm tra, giám sát có thể bao gồm các thông tin về quyền sở hữu trí tuệ, hình ảnh và mô tả hàng hóa, danh sách tổ chức, cá nhân xuất khẩu hoặc nhập khẩu hợp pháp cũng như các tổ chức, cá nhân có khả năng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa xâm phạm quyền. Đây không đơn thuần là một thủ tục đăng ký hành chính. Một hồ sơ giám sát được xây dựng tốt có thể trở thành một dạng IP border enforcement profile của doanh nghiệp trong hệ thống quản lý hải quan.

Ví dụ, đối với một thương hiệu thường xuyên bị làm giả, bộ hồ sơ nên cho phép cán bộ Hải quan nhận diện được: đâu là phiên bản bao bì hợp pháp; đặc điểm nào thường xuất hiện trên hàng giả; mã sản phẩm, mã hàng hoặc cấu trúc serial number hợp lệ; những nhà nhập khẩu và nhà phân phối được phép; các tuyến logistics bình thường của hàng chính hãng; những quốc gia hoặc đầu mối thường phát sinh hàng hóa nghi giả; và các dấu hiệu vật lý có thể phát hiện nhanh khi kiểm tra thực tế.

Khi dữ liệu này được tích hợp vào cơ chế quản lý rủi ro, khả năng Hải quan nhận diện một lô hàng đáng ngờ trước khi hàng đi vào thị trường sẽ cao hơn đáng kể.

Thông tư 06/2026/TT-BTC cũng quy định rõ hơn việc xử lý hồ sơ giám sát. Cục Hải quan kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì trong thời hạn 05 ngày làm việc phải thông báo để bổ sung. Khi hồ sơ đầy đủ, việc kiểm tra nội dung và đối chiếu với cơ sở dữ liệu sở hữu trí tuệ được thực hiện trong thời hạn 20 ngày làm việc.

Vì vậy, đối với doanh nghiệp có nguy cơ hàng giả thường xuyên, đăng ký giám sát nên được thực hiện trước khi xuất hiện vụ việc, thay vì chờ đến khi một container hàng giả đã cập cảng mới bắt đầu chuẩn bị hồ sơ.

3. Khi nào nên để Hải quan chủ động tạm dừng?

Cơ chế chủ động tại Điều 10a đặc biệt hữu ích trong trường hợp dấu hiệu giả mạo tương đối rõ và Hải quan có đủ dữ liệu để đưa ra nhận định ban đầu.

Ba nhóm hàng hóa được quy định trực tiếp gồm: hàng hóa giả mạo nhãn hiệu; hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý; và hàng hóa sao chép lậu.

Điểm này cần được lưu ý. Không phải mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đều thuộc phạm vi mà Hải quan có thể chủ động tạm dừng theo Điều 10a. Chẳng hạn, một tranh chấp đòi hỏi phân tích sâu về khả năng gây nhầm lẫn của hai dấu hiệu; tranh chấp về phạm vi bảo hộ của sáng chế; thiết kế công nghiệp; hoặc các vấn đề mà ngay bản thân phạm vi quyền đang bị tranh chấp sẽ không đơn giản như trường hợp một sản phẩm mang dấu hiệu giả mạo rõ ràng một nhãn hiệu nổi tiếng. Do đó, chiến lược để Hải quan chủ động phù hợp nhất khi ba điều kiện đồng thời xuất hiện:

Thứ nhất, dấu hiệu giả mạo tương đối rõ.

Thứ hai, cơ quan Hải quan đã có dữ liệu đủ tốt để nhận diện hàng hóa.

Thứ ba, lô hàng đã được cơ quan Hải quan đưa vào diện kiểm tra hoặc đã ban hành quyết định chủ động tạm dừng.

Trong trường hợp đó, việc chủ thể quyền lập tức nộp thêm một yêu cầu tạm dừng chỉ để đạt được chính trạng thái pháp lý mà Hải quan đã thiết lập có thể không cần thiết. Thay vào đó, nguồn lực của doanh nghiệp nên tập trung vào việc hỗ trợ Hải quan xác minh nhanh:

chứng minh quyền sở hữu trí tuệ;

cung cấp hàng mẫu hoặc hình ảnh hàng chính hãng;

đối chiếu các dấu hiệu hàng thật – hàng giả;

xác nhận các nhà nhập khẩu được phép;

giải thích cấu trúc mã sản phẩm hoặc các biện pháp chống giả;

và cung cấp ý kiến chuyên môn khi cần thiết.

Theo Điều 10a, sau khi chủ động ra quyết định tạm dừng, Hải quan phải thông báo cho chủ thể quyền, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan hoặc người được ủy quyền hợp pháp theo thông tin liên hệ có trong hồ sơ trong vòng 08 giờ làm việc. Sau đó, Hải quan tiến hành kiểm tra thực tế hàng hóa để xác định vi phạm. Nếu xác định không có vi phạm, thủ tục hải quan được tiếp tục; nếu xác định là hàng giả mạo hoặc hàng sao chép lậu thì xử lý theo pháp luật.

Một điểm đáng chú ý khác là nếu việc Hải quan chủ động tạm dừng không đúng và gây thiệt hại cho chủ hàng, trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này thuộc về cơ quan Hải quan theo cơ chế được quy định tại Điều 10a. Đây là sự khác biệt đáng kể so với trường hợp tạm dừng được thực hiện theo yêu cầu của chủ thể quyền.

4. Khi nào doanh nghiệp nên chủ động yêu cầu tạm dừng?

Không phải lúc nào chờ Hải quan phát hiện cũng là phương án phù hợp. Trong nhiều vụ việc, chủ thể quyền mới là bên nắm thông tin sớm nhất. Doanh nghiệp có thể nhận được thông tin từ nhà phân phối, đơn vị điều tra thị trường, đại lý vận tải, đối tác kinh doanh hoặc mạng lưới chống hàng giả cho thấy một lô hàng cụ thể đang trên đường vào Việt Nam.

Thông tin có thể bao gồm: số vận đơn; container; người xuất khẩu; người nhập khẩu; cảng đến; chuyến tàu hoặc chuyến bay; số lượng; mô tả hàng; hoặc thậm chí số tờ khai hải quan. Trong trường hợp này, chờ hệ thống quản lý rủi ro tự phát hiện có thể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cửa sổ can thiệp. Biện pháp phù hợp khi đó là yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với chính lô hàng cụ thể.

Pháp luật hải quan cho phép chủ thể quyền hoặc người được ủy quyền hợp pháp đề nghị áp dụng biện pháp tạm dừng khi đáp ứng các điều kiện pháp luật về chứng minh quyền, cung cấp thông tin về lô hàng và thực hiện nghĩa vụ bảo đảm. Đây là công cụ mang tính đánh trúng mục tiêu. Doanh nghiệp không chờ Hải quan tự tìm ra lô hàng mà trực tiếp đặt lô hàng cụ thể dưới sự kiểm soát. Biện pháp này đặc biệt nên được cân nhắc khi doanh nghiệp có thông tin tình báo đáng tin cậy về lô hàng; nguy cơ hàng được thông quan rất nhanh; giá trị thương mại hoặc mức độ ảnh hưởng của hàng giả lớn; hàng hóa liên quan tới an toàn người tiêu dùng; có nguy cơ hàng sau khi nhập khẩu sẽ được phân tán nhanh qua thương mại điện tử; hoặc doanh nghiệp cần tạo một vụ việc thực thi đủ mạnh để ngăn chặn một chuỗi cung ứng hàng giả.

5. Nghĩa vụ bảo đảm là yếu tố phải tính toán trước khi yêu cầu tạm dừng

Khác với cơ chế Hải quan chủ động, việc chủ thể quyền yêu cầu tạm dừng làm phát sinh trách nhiệm pháp lý trực tiếp cho người yêu cầu.

Luật Sở hữu trí tuệ yêu cầu người đề nghị kiểm soát phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại và thanh toán các chi phí phát sinh cho người bị áp dụng biện pháp kiểm soát nếu sau đó hàng hóa được xác định không xâm phạm quyền.

Luật Hải quan cũng thiết kế cơ chế bảo đảm nhằm bảo vệ chủ hàng trước một yêu cầu tạm dừng không có căn cứ.

Đây là lý do doanh nghiệp không nên coi yêu cầu tạm dừng như một bước thủ tục mặc định mỗi khi có nghi ngờ.

Trước khi yêu cầu, chủ thể quyền nên đánh giá ít nhất bốn vấn đề:

mức độ chắc chắn của căn cứ xâm phạm;

giá trị của lô hàng và nghĩa vụ tài chính liên quan;

khả năng chứng minh quyền trong thời gian rất ngắn;

và hệ quả nếu lô hàng cuối cùng được xác định là hợp pháp.

Với những vụ việc phức tạp về phạm vi bảo hộ hoặc hàng hóa thuộc các kênh phân phối song song, việc đánh giá pháp lý trước khi yêu cầu tạm dừng càng quan trọng.

6. Không nên nhầm hàng không được chủ sở hữu cho phép với hàng giả

Một trong những rủi ro thực tế trong enforcement là doanh nghiệp đôi khi đồng nhất mọi hàng hóa ngoài hệ thống phân phối chính thức với hàng giả.

Hai vấn đề này không phải lúc nào cũng giống nhau. Một sản phẩm chính hãng được sản xuất hợp pháp nhưng đi vào Việt Nam thông qua một kênh phân phối khác có thể đặt ra những vấn đề pháp lý hoàn toàn khác so với một sản phẩm mang nhãn hiệu giả.

Tương tự, việc dấu hiệu trên hàng hóa có một số điểm giống nhãn hiệu của doanh nghiệp chưa đương nhiên có nghĩa đây là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu theo pháp luật sở hữu trí tuệ. Điều này đặc biệt quan trọng khi cân nhắc sử dụng cơ chế Điều 10a. Ngưỡng có căn cứ rõ ràng nghi ngờ và phạm vi hàng hóa giả mạo được xây dựng cho các tình huống tương đối rõ về bản chất giả mạo, không phải để thay thế quá trình giải quyết mọi dạng tranh chấp sở hữu trí tuệ.

7. Thương mại điện tử khiến cơ chế giám sát tại biên giới trở nên quan trọng hơn

Một điểm mới đáng chú ý khác của Thông tư 06/2026/TT-BTC là bổ sung Điều 14a đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ được giao dịch qua thương mại điện tử.

Theo đó, việc kiểm tra, giám sát được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc quản lý rủi ro; nếu Hải quan nơi đăng ký tờ khai có căn cứ rõ ràng về hàng giả mạo quyền sở hữu trí tuệ thì thực hiện theo trình tự chủ động tạm dừng tại Điều 10a.

Điều này phản ánh một thực tế mới của chống hàng giả. Trong mô hình thương mại truyền thống, một container hàng giả có thể đại diện cho một giao dịch lớn. Trong thương mại điện tử, cùng lượng hàng hóa đó có thể được chia thành hàng trăm hoặc hàng nghìn kiện nhỏ, nhập khẩu qua nhiều thời điểm và nhiều người nhận. Cách tiếp cận dựa hoàn toàn vào việc chủ thể quyền phát hiện từng lô hàng rồi yêu cầu tạm dừng sẽ khó có khả năng mở rộng. Do đó, đối với thương mại điện tử, giá trị của dữ liệu nhận diện + quản lý rủi ro + quyền chủ động của Hải quan trở nên đặc biệt quan trọng.

8. Mô hình ba tầng cho doanh nghiệp muốn xây dựng hệ thống chống hàng giả tại biên giới

Từ góc độ thực tiễn, doanh nghiệp không nên đặt vấn đề giám sát hay tạm dừng dưới dạng hai lựa chọn loại trừ nhau. Một chiến lược hiệu quả hơn có thể được thiết kế theo ba tầng.

Tầng thứ nhất: xây dựng dữ liệu phòng vệ trước khi có vụ việc. Doanh nghiệp đăng ký kiểm tra, giám sát hải quan và thiết lập hồ sơ nhận diện hàng giả có chất lượng. Đây là tầng phòng ngừa.

Tầng thứ hai: để Hải quan chủ động khi dấu hiệu giả mạo rõ ràng. Khi hệ thống quản lý rủi ro hoặc kiểm tra thực tế phát hiện hàng hóa thuộc phạm vi Điều 10a và Hải quan đã chủ động tạm dừng, doanh nghiệp tập trung hỗ trợ xác minh và xử lý thay vì nhất thiết phải lập tức kích hoạt một cơ chế tạm dừng thứ hai. Đây là tầng phối hợp thực thi.

Tầng thứ ba: chủ động yêu cầu tạm dừng khi doanh nghiệp biết rõ lô hàng

Khi chủ thể quyền có intelligence cụ thể về lô hàng nhưng Hải quan chưa phát hiện hoặc chưa chủ động tạm dừng, doanh nghiệp sử dụng quyền yêu cầu tạm dừng để can thiệp ngay. Đây là tầng enforcement chủ động. Ba tầng này bổ sung cho nhau.

Một doanh nghiệp quản trị quyền sở hữu trí tuệ tốt không chỉ sở hữu văn bằng bảo hộ. Doanh nghiệp cần chuyển quyền sở hữu trí tuệ thành dữ liệu mà cơ quan thực thi có thể sử dụng và thiết lập quy trình phản ứng đủ nhanh khi hàng giả xuất hiện.

9. Doanh nghiệp nên chuẩn bị những gì từ trước?

Vấn đề lớn nhất trong các vụ hàng giả tại cửa khẩu thường không phải là thiếu quyền sở hữu trí tuệ mà là thiếu khả năng phản ứng trong thời gian ngắn.

Khi một lô hàng bị giữ, thời gian xử lý được tính bằng ngày làm việc, không phải bằng tuần hay tháng. Do đó, các doanh nghiệp có thương hiệu giá trị cao nên duy trì sẵn một border enforcement file, tối thiểu bao gồm:

văn bằng bảo hộ và tình trạng hiệu lực;

giấy ủy quyền cho đơn vị xử lý tại Việt Nam;

danh mục sản phẩm chính hãng;

hình ảnh và dấu hiệu phân biệt hàng thật – hàng giả;

dữ liệu serial number hoặc hệ thống xác thực nếu có;

danh sách nhà nhập khẩu và nhà phân phối hợp pháp;

thông tin các đối tượng có nguy cơ vi phạm đã biết;

đầu mối pháp lý có thể phản hồi Hải quan ngay;

và quy trình nội bộ để quyết định nhanh việc có yêu cầu tạm dừng hay không.

Hồ sơ này cũng cần được cập nhật khi bao bì, model, distributor hoặc chuỗi cung ứng thay đổi. Thông tư 06/2026/TT-BTC đã thiết kế cơ chế cập nhật, bổ sung thông tin đã được Hải quan chấp nhận; Cục Hải quan xử lý hồ sơ cập nhật trong thời hạn 05 ngày làm việc theo quy định.

10. Một thay đổi về tư duy enforcement

Ý nghĩa quan trọng nhất của Thông tư 06/2026/TT-BTC không chỉ nằm ở việc bổ sung một thủ tục mới. Thay đổi đáng chú ý hơn là sự dịch chuyển về cách thức thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới. Hệ thống đang đi theo hướng dữ liệu nhiều hơn – quản lý rủi ro nhiều hơn – số hóa nhiều hơn – và chủ động hơn từ phía Hải quan. Trong hệ thống đó, vai trò của chủ thể quyền cũng thay đổi. Doanh nghiệp không nên chỉ xuất hiện sau khi hàng giả đã bị phát hiện. Chủ thể quyền hiệu quả là chủ thể đã cung cấp cho cơ quan Hải quan đủ dữ liệu từ trước để cơ quan thực thi có thể nhận ra hàng giả khi nó xuất hiện.

Vì vậy, câu hỏi phù hợp không còn đơn giản là Nên đăng ký giám sát hay nên yêu cầu tạm dừng? Mà phải là Ở giai đoạn nào, ai đang có thông tin tốt nhất và cơ chế nào tạo ra khả năng chặn hàng nhanh nhất với mức rủi ro pháp lý hợp lý nhất?

Nếu chưa có vụ việc cụ thể, đăng ký giám sát là nền tảng. Nếu Hải quan đã phát hiện và chủ động tạm dừng một trường hợp giả mạo rõ ràng, doanh nghiệp nên tập trung phối hợp xác minh và xử lý. Nếu doanh nghiệp biết trước một lô hàng nghi xâm phạm mà Hải quan chưa hành động, yêu cầu tạm dừng vẫn là công cụ chủ động quan trọng nhất. Đó mới là cách tiếp cận phù hợp với cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới sau Thông tư 06/2026/TT-BTC.

Khuyến nghị của La Défense

Đối với doanh nghiệp có nhãn hiệu, bản quyền hoặc các tài sản sở hữu trí tuệ thường xuyên đối mặt với nguy cơ hàng giả từ hoạt động xuất nhập khẩu, việc bảo vệ quyền tại biên giới nên được xây dựng như một chương trình tuân thủ và thực thi thường xuyên, thay vì xử lý từng vụ việc riêng lẻ.

La Défense khuyến nghị doanh nghiệp định kỳ rà soát phạm vi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam; đăng ký và cập nhật hồ sơ kiểm tra, giám sát với cơ quan Hải quan; xây dựng bộ nhận diện hàng thật – hàng giả; thiết lập đầu mối phản ứng nhanh khi nhận được thông báo của Hải quan; và xây dựng sẵn tiêu chí nội bộ để quyết định khi nào cần yêu cầu tạm dừng một lô hàng cụ thể.

Trong nhiều trường hợp, khả năng chặn hàng giả thành công không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có quyền hay không, mà phụ thuộc vào việc quyền đó đã được chuyển hóa thành một cơ chế thực thi đủ nhanh và đủ chính xác hay chưa.

Bài viết mang tính chất thông tin pháp lý chung và không thay thế ý kiến tư vấn đối với một vụ việc cụ thể.

Xem thêm các bài viết pháp lý khác có liên quan:

Bài viết liên quan

Chat zalo
Chat Facebook

LK01-15 Roman Plaza, To Huu, Nam Tu Liem, Hanoi

attorney@ladefense.vn

0968896603