Nghị định 274/2026/NĐ-CP thiết lập khuôn khổ thống nhất và tinh gọn hơn về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh
Ngày 07/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 274/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh. Nghị định có hiệu lực từ ngày 21/8/2026, riêng Điều 74 về sửa đổi, bổ sung một số quy định đối với dự án áp dụng loại hợp đồng xây dựng – chuyển giao có hiệu lực ngay từ ngày ký ban hành.
Sự ra đời của Nghị định 274/2026/NĐ-CP đánh dấu bước chuyển đáng kể trong quá trình hoàn thiện khung pháp lý về lựa chọn nhà đầu tư tại Việt Nam. Thay vì duy trì các quy định phân tán giữa dự án đầu tư có sử dụng đất và dự án thuộc ngành, lĩnh vực phải tổ chức đấu thầu, Nghị định mới xây dựng một cơ chế điều chỉnh thống nhất, đồng thời cập nhật các thay đổi của pháp luật về đầu tư, đất đai, đấu thầu và pháp luật chuyên ngành.
Điểm đáng chú ý của Nghị định không chỉ nằm ở việc hợp nhất các văn bản trước đây, mà còn ở cách tiếp cận mới đối với việc xác định dự án phải đấu thầu, chuẩn bị dự án, công bố thông tin, tổ chức mời quan tâm, đánh giá nhà đầu tư, áp dụng ưu đãi và triển khai dự án sau khi có kết quả lựa chọn.
1. Hợp nhất khung pháp lý về lựa chọn nhà đầu tư
Trước khi Nghị định 274/2026/NĐ-CP có hiệu lực, cơ chế lựa chọn nhà đầu tư được quy định tại nhiều văn bản khác nhau, chủ yếu gồm:
- Nghị định số 23/2024/NĐ-CP đối với dự án phải tổ chức đấu thầu theo pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực;
- Nghị định số 115/2024/NĐ-CP đối với dự án đầu tư có sử dụng đất;
- Nghị định số 225/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nội dung của các nghị định nêu trên.
Việc tồn tại song song nhiều văn bản dẫn đến nguy cơ khác biệt về trình tự, cách xác định thẩm quyền và yêu cầu hồ sơ giữa các nhóm dự án. Nghị định 274/2026/NĐ-CP khắc phục tình trạng này bằng việc đưa phần lớn quy định về lựa chọn nhà đầu tư vào một văn bản chung.
Kể từ ngày 21/8/2026, Nghị định số 23/2024/NĐ-CP, Nghị định số 115/2024/NĐ-CP và Nghị định số 225/2025/NĐ-CP hết hiệu lực, ngoại trừ Điều 69 của Nghị định số 115/2024/NĐ-CP tiếp tục được áp dụng theo quy định chuyển tiếp.
Cách tiếp cận hợp nhất giúp cơ quan nhà nước, nhà đầu tư và đơn vị tư vấn xác định rõ hơn quy trình áp dụng cho từng dự án, đồng thời hạn chế sự chồng chéo giữa pháp luật đấu thầu, pháp luật đất đai và pháp luật chuyên ngành.
2. Xác định lại phạm vi dự án phải tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư
Nghị định 274/2026/NĐ-CP phân loại dự án phải tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thành ba nhóm chính.
Nhóm thứ nhất là dự án đầu tư có sử dụng đất thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật đất đai.
Nhóm thứ hai là dự án đầu tư có sử dụng đất thuộc ngành, lĩnh vực mà pháp luật chuyên ngành quy định phải tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư.
Nhóm thứ ba là dự án đầu tư không sử dụng đất nhưng thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu theo pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực và không thuộc trường hợp đấu giá tài sản công.
Đối với dự án đầu tư có sử dụng đất thuộc pháp luật chuyên ngành, Nghị định xác định cụ thể một số loại dự án đáng chú ý, bao gồm:
- Dự án xây dựng công trình xử lý chất thải rắn sinh hoạt;
- Dự án xây dựng công trình cấp nước;
- Dự án xây dựng chợ;
- Dự án đầu tư trạm dừng nghỉ;
- Dự án đầu tư xây dựng cảng hàng không mới;
- Dự án xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao và môi trường;
- Dự án cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư;
- Dự án đầu tư kinh doanh điện lực;
- Các dự án khác thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất và pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực yêu cầu lựa chọn nhà đầu tư thông qua đấu thầu.
Việc quy định danh mục ngay tại Nghị định giúp nhà đầu tư nhận diện sớm cơ chế tiếp cận dự án, thay vì chỉ dựa vào tên gọi hoặc mục tiêu hoạt động của dự án. Tuy nhiên, việc một dự án có thuộc diện đấu thầu hay không vẫn phải được xem xét đồng thời theo pháp luật đất đai, pháp luật đầu tư và văn bản chuyên ngành áp dụng tại thời điểm chuẩn bị dự án.
3. Điều kiện đối với quỹ đất thực hiện dự án được quy định rõ hơn
Đối với dự án đầu tư có sử dụng đất, Nghị định 274/2026/NĐ-CP yêu cầu quỹ đất dự kiến thực hiện dự án phải đáp ứng các điều kiện cơ bản sau:
Thứ nhất, khu đất phải thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất hoặc thuộc quỹ đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý và được Nhà nước cho thuê đất theo quy định.
Thứ hai, khu đất phải thuộc danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu dự án đầu tư có sử dụng đất đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định theo quy định của pháp luật đất đai.
Trường hợp trong phạm vi khu đất thực hiện dự án có phần đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý theo Điều 217 Luật Đất đai, Nhà nước có thể thu hồi để giao đất hoặc cho thuê đất thông qua đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư đối với toàn bộ khu đất.
Quy định này tạo cơ sở pháp lý để xử lý các khu đất có hiện trạng pháp lý đan xen, đồng thời hỗ trợ việc hình thành quỹ đất thống nhất cho dự án. Tuy nhiên, trên thực tế, tiến độ lựa chọn nhà đầu tư vẫn phụ thuộc đáng kể vào việc hoàn thiện danh mục đất đấu thầu, xác định phạm vi thu hồi đất và chuẩn bị phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
4. Làm rõ các trường hợp không phải tổ chức đấu thầu
Không phải mọi dự án có sử dụng đất hoặc thuộc ngành, lĩnh vực có yêu cầu quản lý đặc thù đều phải tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư.
Nghị định loại trừ các dự án thuộc trường hợp giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất và không thông qua đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư theo quy định của pháp luật. Việc lựa chọn nhà đầu tư cũng không được thực hiện theo Nghị định nếu dự án thuộc trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất, đấu giá tài sản công hoặc áp dụng một cơ chế lựa chọn khác theo luật chuyên ngành.
Đối với một số dự án xã hội hóa, dự án cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư và dự án đầu tư kinh doanh điện lực, yêu cầu đấu thầu chỉ phát sinh khi có từ hai nhà đầu tư trở lên quan tâm và đăng ký thực hiện dự án.
Cơ chế này thể hiện nguyên tắc cạnh tranh thực chất. Khi thị trường không hình thành sự cạnh tranh giữa nhiều nhà đầu tư, việc tiếp tục tổ chức một quy trình đấu thầu đầy đủ có thể không đạt được mục tiêu lựa chọn và chỉ làm kéo dài tiến độ dự án.
5. Đơn giản hóa việc chuẩn bị và công bố dự án
Một trong những điểm có ý nghĩa thực tiễn của Nghị định 274/2026/NĐ-CP là phân định rõ cơ sở công bố thông tin đối với hai nhóm dự án.
Đối với dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư là căn cứ để công bố dự án và triển khai lựa chọn nhà đầu tư.
Đối với dự án không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, người có thẩm quyền phê duyệt thông tin dự án đầu tư kinh doanh trước khi tổ chức đấu thầu. Thông tin được phê duyệt phải xác định những nội dung cốt lõi của dự án như tên dự án, mục tiêu, quy mô, địa điểm, thời hạn hoạt động, tiến độ, hiện trạng và nhu cầu sử dụng đất, sơ bộ tổng vốn đầu tư cùng các yêu cầu quản lý ngành, lĩnh vực.
Nhà đầu tư cũng có thể đề xuất thực hiện dự án trong trường hợp pháp luật cho phép. Tuy nhiên, việc nhà đầu tư đề xuất dự án không đồng nghĩa với việc nhà đầu tư đó mặc nhiên được lựa chọn. Dự án vẫn phải được xem xét, phê duyệt thông tin, công bố và tổ chức lựa chọn theo nguyên tắc cạnh tranh, công bằng và minh bạch.
Cơ chế này mở thêm kênh tiếp nhận sáng kiến đầu tư từ khu vực tư nhân nhưng vẫn duy trì quyền quyết định của cơ quan nhà nước đối với sự phù hợp của dự án với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
6. Không phải mọi dự án đều phải thực hiện thủ tục mời quan tâm
Nghị định 274/2026/NĐ-CP tiếp tục sử dụng thủ tục mời quan tâm như một công cụ xác định mức độ cạnh tranh của thị trường, nhưng không áp dụng đồng loạt đối với tất cả dự án.
Thủ tục mời quan tâm có ý nghĩa đặc biệt đối với những dự án mà việc có từ hai nhà đầu tư trở lên đăng ký là điều kiện để tổ chức đấu thầu. Hồ sơ mời quan tâm chỉ được đặt ra các yêu cầu nhằm đánh giá tư cách hợp lệ và năng lực thực hiện dự án; không được đưa ra điều kiện làm hạn chế sự tham gia của nhà đầu tư hoặc tạo lợi thế không bình đẳng cho một hay một số nhà đầu tư.
Hồ sơ mời quan tâm có thể được lập và phê duyệt đồng thời với quá trình chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc phê duyệt thông tin dự án. Cách thức này cho phép thực hiện song song một số công việc chuẩn bị, qua đó rút ngắn thời gian trước khi dự án chính thức được đưa ra thị trường.
Kết quả mời quan tâm được xử lý theo ba hướng:
- Nếu có từ hai nhà đầu tư trở lên đáp ứng yêu cầu, dự án được tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư;
- Nếu chỉ có một nhà đầu tư đăng ký và đáp ứng yêu cầu, hoặc có nhiều nhà đầu tư đăng ký nhưng chỉ một nhà đầu tư đáp ứng yêu cầu, nhà đầu tư đó thực hiện thủ tục chấp thuận nhà đầu tư theo pháp luật đầu tư mà không phải thực hiện lại thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư;
- Nếu không có nhà đầu tư đáp ứng, thủ tục mời quan tâm được kết thúc và cơ quan có thẩm quyền xem xét phương án xử lý tiếp theo.
Đây là thay đổi có khả năng làm giảm đáng kể thời gian xử lý đối với những dự án không hình thành cạnh tranh thực tế.

7. Mở rộng và cụ thể hóa các hình thức lựa chọn nhà đầu tư
Nghị định quy định quy trình tương ứng với từng hình thức và phương thức lựa chọn nhà đầu tư, bao gồm đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định nhà đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt.
Đối với dự án thông thường, quy trình cơ bản gồm công bố dự án, chuẩn bị đấu thầu, tổ chức đấu thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, thẩm định và phê duyệt kết quả, đàm phán, hoàn thiện và ký kết hợp đồng dự án.
Đối với dự án có yêu cầu đặc thù về phát triển kinh tế – xã hội nhưng chưa thể xác định đầy đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, xã hội hoặc môi trường ngay từ đầu, Nghị định cho phép áp dụng đấu thầu rộng rãi theo phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ. Phương thức này tạo điều kiện để cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và hoàn thiện các giải pháp kỹ thuật trước khi yêu cầu nhà đầu tư nộp hồ sơ dự thầu hoàn chỉnh.
Việc áp dụng chỉ định nhà đầu tư hoặc lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt phải có căn cứ pháp lý cụ thể, đáp ứng đúng điều kiện và thẩm quyền theo Luật Đấu thầu. Các cơ chế này không phải là giải pháp thay thế thông thường cho đấu thầu cạnh tranh.
8. Thiết lập cơ chế ưu đãi gắn với công nghệ và đổi mới sáng tạo
Nghị định 274/2026/NĐ-CP đặt ra cơ chế ưu đãi trong đánh giá hồ sơ dự thầu đối với nhà đầu tư có năng lực và cam kết về công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Nhà đầu tư cam kết chuyển giao công nghệ, thực hiện hoạt động công nghệ cao hoặc sử dụng công nghệ thuộc danh mục được khuyến khích có thể được hưởng mức ưu đãi 2% khi đánh giá hồ sơ dự thầu.
Nhà đầu tư là doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ cao hoặc cơ sở ươm tạo công nghệ cao có thể được hưởng mức ưu đãi 5%.
Nhà đầu tư nước ngoài cam kết chuyển giao công nghệ cho nhà đầu tư hoặc đối tác trong nước cũng có thể được hưởng mức ưu đãi 2%.
Ưu đãi được thực hiện thông qua việc cộng thêm tỷ lệ tương ứng vào điểm tổng hợp của nhà đầu tư để phục vụ việc so sánh và xếp hạng. Nhà đầu tư phải nộp tài liệu chứng minh ngay trong hồ sơ dự thầu và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ cam kết sau khi được lựa chọn.
Do đó, cam kết về công nghệ không chỉ là nội dung trình bày nhằm nâng cao điểm số. Cam kết này cần được cụ thể hóa trong hợp đồng dự án và có thể trở thành nghĩa vụ pháp lý của nhà đầu tư trong quá trình triển khai.
9. Tăng cường số hóa quá trình lựa chọn nhà đầu tư
Nghị định 274/2026/NĐ-CP thiết lập lộ trình mở rộng lựa chọn nhà đầu tư trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.
Từ ngày 01/01/2027, việc nộp hồ sơ đề xuất dự án và tổ chức mời quan tâm được thực hiện trên hệ thống.
Từ ngày 01/4/2027, việc lựa chọn nhà đầu tư qua mạng được áp dụng đối với các dự án tổ chức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế, trừ các trường hợp không thực hiện qua mạng theo quy định.
Việc chuyển sang môi trường điện tử có thể giúp giảm chi phí hành chính, chuẩn hóa dữ liệu, tăng khả năng theo dõi tiến độ và hạn chế sự khác biệt trong cách thức tiếp nhận hồ sơ giữa các địa phương.
Tuy nhiên, nhà đầu tư cần chủ động đăng ký, cập nhật thông tin trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; chuẩn bị chữ ký số; phân công người quản trị tài khoản; kiểm soát dung lượng, định dạng và thời điểm nộp hồ sơ. Sai sót kỹ thuật hoặc nộp hồ sơ sau thời điểm đóng thầu có thể trực tiếp ảnh hưởng đến quyền tham dự của nhà đầu tư.
10. Chuẩn hóa việc đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng dự án
Sau khi có kết quả lựa chọn nhà đầu tư, cơ quan có thẩm quyền và nhà đầu tư tiến hành đàm phán, hoàn thiện và ký kết hợp đồng dự án đầu tư kinh doanh.
Hợp đồng phải phản ánh đầy đủ các cam kết trong hồ sơ dự thầu, bao gồm tiến độ góp vốn, huy động vốn, xây dựng, đưa dự án vào khai thác, nghĩa vụ tài chính, yêu cầu về công nghệ, môi trường, xã hội và các điều kiện quản lý chuyên ngành.
Đáng chú ý, Nghị định yêu cầu hợp đồng dự án quy định việc chuyển nhượng dự án, chuyển nhượng cổ phần hoặc phần vốn góp trong tổ chức kinh tế do nhà đầu tư thành lập. Trước khi dự án được đưa vào khai thác, vận hành, việc thay đổi cơ cấu sở hữu phải đáp ứng các điều kiện nhằm bảo đảm nhà đầu tư được lựa chọn tiếp tục chịu trách nhiệm đối với năng lực và cam kết đã dùng để tham dự thầu.
Sau khi dự án đi vào khai thác, vận hành, việc chuyển nhượng cổ phần hoặc phần vốn góp được thực hiện theo pháp luật doanh nghiệp và pháp luật tương ứng với từng loại hình tổ chức kinh tế, đồng thời phải tuân thủ hợp đồng dự án và các điều kiện đầu tư áp dụng.
Quy định này đặt ra yêu cầu phải tính toán trước cơ cấu công ty dự án, phương án huy động vốn, quyền của bên cho vay và khả năng chuyển nhượng vốn trong suốt vòng đời dự án.
11. Quy định chuyển tiếp theo từng giai đoạn của quá trình lựa chọn
Nghị định 274/2026/NĐ-CP không áp dụng một cơ chế chuyển tiếp duy nhất cho mọi dự án mà phân loại theo mức độ hoàn thành của thủ tục.
Đối với dự án đang lập hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời thầu hoặc hồ sơ yêu cầu nhưng đến ngày Nghị định có hiệu lực chưa phê duyệt, hoặc đã phê duyệt nhưng chưa phát hành, hồ sơ phải được lập hoặc điều chỉnh phù hợp với Luật Đấu thầu và Nghị định 274/2026/NĐ-CP.
Đối với dự án đã phát hành hồ sơ nhưng chưa mở thầu, người có thẩm quyền xem xét cho phép tiếp tục thực hiện theo hồ sơ đã phát hành hoặc gia hạn thời điểm đóng thầu để sửa đổi hồ sơ theo quy định mới.
Đối với dự án đã phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư nhưng chưa ký hợp đồng, việc đàm phán và ký kết được thực hiện trên cơ sở kết quả lựa chọn, hồ sơ dự thầu và hồ sơ mời thầu đã phát hành.
Hợp đồng dự án đã ký trước ngày Nghị định có hiệu lực tiếp tục được thực hiện. Nếu cần sửa đổi nội dung mà pháp luật tại thời điểm ký chưa quy định hoặc cần điều chỉnh để bảo đảm hiệu quả dự án, các bên có thể thỏa thuận sửa đổi trên cơ sở Luật Đấu thầu, Nghị định 274/2026/NĐ-CP và pháp luật có liên quan tại thời điểm sửa đổi.
Như vậy, việc xác định thời điểm pháp lý của từng dự án là đặc biệt quan trọng. Cùng một loại dự án nhưng quy định áp dụng có thể khác nhau tùy thuộc hồ sơ đã được phê duyệt, phát hành, mở thầu hay đã có kết quả lựa chọn nhà đầu tư.
12. Một số vấn đề nhà đầu tư cần lưu ý
Nghị định 274/2026/NĐ-CP tạo ra một khung thủ tục thống nhất và có xu hướng tinh gọn hơn, nhưng không làm giảm yêu cầu về chất lượng chuẩn bị dự án. Trước khi quyết định tham gia, nhà đầu tư nên thực hiện ít nhất các công việc sau:
Thứ nhất, xác định chính xác căn cứ đưa dự án ra đấu thầu, bao gồm căn cứ theo pháp luật đất đai, pháp luật đầu tư và pháp luật chuyên ngành.
Thứ hai, rà soát tình trạng pháp lý của quỹ đất, quy hoạch, danh mục đất đấu thầu, phạm vi thu hồi đất và khả năng thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Thứ ba, đánh giá yêu cầu về vốn chủ sở hữu, kinh nghiệm thực hiện dự án tương tự, khả năng huy động vốn và cơ cấu liên danh ngay từ giai đoạn mời quan tâm.
Thứ tư, nếu dự kiến hưởng ưu đãi về công nghệ, nhà đầu tư cần xây dựng hồ sơ chứng minh đầy đủ và bảo đảm các cam kết có khả năng thực hiện trên thực tế.
Thứ năm, rà soát kỹ dự thảo hợp đồng dự án, đặc biệt là cơ chế điều chỉnh tiến độ, xử lý vi phạm, chấm dứt hợp đồng, chuyển nhượng dự án, thay đổi thành viên liên danh và chuyển nhượng vốn tại công ty dự án.
Thứ sáu, chuẩn bị đầy đủ điều kiện để tham gia quy trình điện tử trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia theo lộ trình bắt buộc từ năm 2027.
Góc nhìn tổng quan
Nghị định 274/2026/NĐ-CP không chỉ hợp nhất các quy định trước đây về lựa chọn nhà đầu tư mà còn tái cấu trúc toàn bộ quá trình từ xác định dự án, chuẩn bị quỹ đất, công bố thông tin, mời quan tâm, tổ chức đấu thầu đến ký kết và thực hiện hợp đồng.
Các thay đổi mới có thể góp phần rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án, tăng tính minh bạch và tạo điều kiện tiếp cận bình đẳng hơn cho nhà đầu tư. Đồng thời, Nghị định cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về tính nhất quán giữa hồ sơ dự thầu, năng lực thực tế, cam kết công nghệ, phương án tài chính và nghĩa vụ thực hiện dự án.
Đối với nhà đầu tư đang nghiên cứu dự án có sử dụng đất, dự án hạ tầng, năng lượng, môi trường, hàng không, cấp nước, chợ, nhà ở hoặc dự án xã hội hóa, việc rà soát Nghị định 274/2026/NĐ-CP ngay từ giai đoạn xây dựng phương án đầu tư sẽ giúp xác định đúng lộ trình pháp lý, hạn chế rủi ro thủ tục và nâng cao khả năng cạnh tranh trong quá trình lựa chọn nhà đầu tư.
Nội dung trên được xây dựng trên cơ sở Nghị định số 274/2026/NĐ-CP và thông tin công bố trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Xem thêm các bài viết pháp lý khác có liên quan:
- Bước chuyển chiến lược trong chính sách phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam từ Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 2026
- Đánh thuế tài sản mã hóa tại Việt Nam: Bước tiến chính sách hay khởi đầu của một bài toán pháp lý phức tạp?
- Ngành nghề kinh doanh không được liệt kê trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam: Khung pháp lý và những lưu ý đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Khung pháp lý về Ưu Đãi Đầu Tư và Hỗ Trợ Đầu Tư Tại Việt Nam từ 2025
- CHỦ SỞ HỮU HƯỞNG LỢI THEO NGHỊ ĐỊNH 296/2026/NĐ-CP: DOANH NGHIỆP PHẢI TRUY VẾT ĐẾN CÁ NHÂN KIỂM SOÁT CUỐI CÙNG NHƯ THẾ NÀO?
